Thanh Hóa đất rộng, người đông. Phía Bắc và phía Nam có các dãy núi giáp ranh với Ninh Bình, Nghệ An, tựa như bức phên dậu vươn dài từ Tây xuống Đông. Phía Tây có những dãy núi cao sừng sững, uy nghi. Các dãy núi ấy tạo nên dáng dấp của một chiếc “ngai lớn” nhìn ra Biển Đông.
Làng cổ Đông Sơn tựa núi Rồng, ảnh Xuân Văn
Thanh Hóa có hai dòng sông lớn chảy dọc từ
miền Tây xuống Biển Đông. Nếu dòng sông Chu hiền hòa, bồi tụ phù sa, thì dòng
sông Mã lại dữ dội, gầm vang như tiếng trống, tiếng chiêng, thúc giục các bậc
anh hùng.
Thanh Hóa là vùng địa lợi điển hình. Tiến
thì có biển rộng, trời cao; lui thì có núi rừng che chở. Có lẽ vì vậy, kẻ thù
phương Bắc bao lần xâm chiếm, thì bấy lần thảm bại bởi yếu tố địa lợi, bởi hồn
thiêng sông núi, và đặc biệt là bởi khí phách của đất và người xứ Thanh nói
riêng, nước Việt nói chung.
Có thể nói, thế núi hình sông ấy đã ảnh hưởng
đáng kể tới sự đa dạng trong nhân cách và khí phách của người xứ Thanh.
Nhà sử học Phan Huy Chú viết:
“Thanh Hoa… các triều trước vẫn gọi là
một trấn rất quan trọng. Đến Lê lại là nơi căn bản. Vẻ non sông tươi tốt chung
đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều
văn nho. Đến những sản vật quý, cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người
giỏi nên nảy ra những bậc phi thường; vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu
cả nước”.
Trên đời, có những nơi đất và người cảm phục
lòng người, khó mà kìm chế được sự ngưỡng mộ. Phải chăng, nơi đây ý trời đã chiều
theo lòng người?
Nhìn lại nghìn năm qua, xứ Thanh đất có
khí thiêng, người có khí phách. Đời nào cũng sinh hào kiệt. Như bậc nữ nhi Bà
Triệu, không chịu làm thê thiếp, chỉ muốn “cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ”,
khiến quân Đông Ngô hồn bay, phách lạc.
Dương Đình Nghệ quy tụ ba nghìn môn đệ, rửa nỗi nhục nghìn năm.
Tiếp nối truyền thống ấy, nhiều người xứ
Thanh cùng với bách gia trăm họ đã lập nên các vương triều như: Tiền Lê, Hậu
Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn và nhà Nguyễn. Các vương triều này đã góp
phần khẳng định và đặt thêm nền móng cho chủ quyền lãnh thổ của con Rồng cháu
Tiên.
Các triều đại ấy có công lớn trong việc
đánh đuổi kẻ thù phương Bắc, mở rộng trời Nam, để lại tiếng thơm muôn thuở, đời
nối đời tưởng nhớ tiền nhân.
Dân số Thanh Hóa đông đúc. Người Thanh Hóa
thường xa quê lập nghiệp, nên đi đâu cũng dễ gặp người Thanh Hóa. Họ thường dấn
thân, đương đầu với thử thách, và nhiều người đã thành công.
Cũng vì vậy, người các tỉnh khác đôi khi
phải cạnh tranh khốc liệt với người Thanh Hóa trên nhiều phương diện: kinh tế,
chính trị, thậm chí cả tình yêu. Đó cũng là lý do nhiều người không thích người
Thanh Hóa. Âu cũng là lẽ thường.
Khổng Tử dạy rằng: “Trong ba người, nhất
định có một người làm thầy ta”. Nhưng thực tế lại dạy ta rằng: “Trong ba
người, cũng có thể có một người cản đường ta đi”.
Chỉ khi nào ta vượt qua thử thách, trở
thành người dẫn dắt, người đứng đầu, thì người khác mới quy phục ta. Nhưng
trong lòng họ chưa chắc đã thích ta, trừ khi họ có sự gắn kết về lợi ích kinh tế,
chính trị, và vì sự an toàn trong cuộc chơi đó.
Ở tầm địa chính trị toàn cầu cũng vậy. Mỗi
khi một nước nào đó nổi lên, các nước khác thường vây lại để ngăn cản. Đó là
quy luật, không ai thay đổi được. Vì thế, nhiều người không thích người Thanh
Hóa cũng dễ hiểu.
Hơn nữa, người Thanh Hóa bộc trực, giọng
nói lại nặng và thô, nên thường không được yêu mến ngay từ lần tiếp xúc ban đầu.
Nhưng khi đã chơi với nhau rồi, thì rất nhiều tay rõ chất, rõ tình.
Vua Minh Mạng từng cho rằng: Người Thanh
Hóa cứng đầu, khó bảo. Đó là lý do ông bổ nhiệm người Thanh Hóa làm tổng đốc
Thanh Hóa để quản người Thanh Hóa, mặc dù triều Nguyễn có luật hồi tỵ, cấm quan
lại làm việc tại quê hương mình.
Người Thanh Hóa cũng thường không đoàn kết,
nên khó tạo nên sức mạnh tập thể. Trong lịch sử hơn 500 năm, chúa Trịnh, chúa
Nguyễn, nhà Lê từng mất đoàn kết, phân tranh, làm ảnh hưởng đến bách gia trăm họ.
Những năm 90 của thế kỷ trước, nhiều câu chuyện mất đoàn kết của lãnh đạo Thanh
Hóa cũng là điều đáng luận bàn.
Người Thanh Hóa thường bị cho là cục bộ, địa
phương. Nhưng thực tế chưa hẳn như vậy. Tính địa phương của người Thanh Hóa
không bằng Nghệ Tĩnh. Do người Thanh Hóa đông, nhiều người gặp người Thanh Hóa ở
khắp nơi, lại phải cạnh tranh với họ, nên dễ nghĩ ngay đến chuyện cục bộ địa
phương.
Chuyện cục bộ, hợp rồi tan, tan rồi hợp,
cũng là lẽ thường. Khi đối mặt với khó khăn chung thì hợp; khi hết khó khăn, đụng
đến lợi ích thì lại tan ra, rồi lại hợp lại.
Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh viết:
“Không rõ có phải xứ Thanh là vùng đất
‘địa linh nhân kiệt’, vùng đất của những ‘quân vương’, nên con người xứ Thanh
luôn có tâm lý ‘hướng thượng’, muốn thành ‘đầu lĩnh’. Cứ có đến hai người Thanh
Hóa là họ ít khi ‘chịu’ nhau. Do vậy, ở người xứ Thanh, tính cố kết địa phương
có phần giảm thiểu hơn người xứ Nghệ?”.
Nhóm sử gia Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần
Xán nhận xét về người Ái Châu trong Đại Nam nhất thống chí:
“Kẻ sĩ ưa chuộng văn học, đời nào
cũng có anh tài; con người phóng khoáng, lỗi lạc, có nhiều tiết khí, cũng là nhờ
được thanh tú của non sông”.
Sách Nhất thống chí của nhà Thanh, Trung
Quốc, cũng có nói: “Người ở Ái Châu, tức Thanh Hóa, cao điệu mà thích điều
nghĩa, tức là thế…”.
Thực tế ở đâu cũng có anh hùng, và ở đâu
cũng có thằng khùng, thằng điên. Nếu nói những đặc điểm trên là của người Thanh
Hóa là chưa thật sát, vì nhiều nơi cũng có đặc điểm như vậy. Nhưng ở người
Thanh Hóa, những đặc điểm ấy hiện lên rõ nét và phổ quát hơn.
Về Phụ
nữ Thanh Hóa: có thể không nhẹ nhàng, dịu dàng, ngọt ngào như phụ nữ ở các địa
phương khác. Họ không mềm như Kinh Bắc “Người ơi, người ở đừng về”;
không mộng mơ như “ôm Huế vào lòng”; cũng không da diết như người Miền
Nam:
“Em
về qua núi mây bay,
Để lòng anh hóa thành ngày đợi trông”.
Nhưng các bà vợ người Thanh Hóa lại thể hiện
sự bộc trực, mạnh mẽ, dứt khoát. Có khi hơi thô cứng, nhưng luôn chuyển tải
thông điệp rất rõ ràng đến đối phương, như trong điệu hò: “Dô ta, dô huầy!”, “Dô
ta, dô huầy!”.
Được cái, các bà vợ người Thanh Hóa yêu chồng,
thương con và rất có trách nhiệm. Ai mà đụng đến chồng con các bà thì thôi rồi,
khó mà tưởng tượng được.
Khi bị mất mặt, các bà chẳng tiếc gì, sẵn
sàng bỏ cuộc chơi. Tính cách này có từ hơn nghìn năm trước. Khi quân Đông Ngô cởi
quần áo đứng trước Bà Triệu để làm nhục bà, bà thấy bị xúc phạm nên sẵn sàng tuẫn
tiết, bỏ cuộc chơi chẳng tiếc gì, vì đối thủ không chơi đẹp, không fairplay.
Các quý ông lấy vợ người Thanh Hóa thì biết
rồi đấy. Trái ý các bà thì thôi rồi. Nhưng khi làm cho các bà vui, thì các bà
chẳng tiếc gì.
Xuân Văn
Tags:
GÓC NHÌN CUỘC SỐNG